Cẩm Nang Phú Yên: Dấu Ấn Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Trong Nhiệm Kỳ 2000-2005

Trước năm 1989, cả nước biết đến Phú Yên là vựa lúa miền Trung, còn công nghiệp không có gì đáng kể, ngoài một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp manh mún. Năm 2000, sau 11 năm tái lập tỉnh, tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế tăng lên 21,5%.

Phú Yên xây dựng mới Nhà máy đường Tuy Hòa, Công ty Khai thác và chế biến khoáng sản, 2 xí nghiệp chế biến nhân hạt điều xuất khẩu, Nhà máy đông lạnh Tuy Hòa, Xí nghiệp nước khoáng Phú Sen, Công ty liên doanh bia Sài Gòn, 2 xí nghiệp may xuất khẩu, các xí nghiệp chế biến gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, xí nghiệp nhựa bao bì, xí nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, xí nghiệp sản xuất phân bón, các cơ sở khai thác đá xây dựng, Nhà máy gạch Tuynel, Nhà máy thủy điện Sông Hinh công suất 70MW, nhà máy tinh bột sắn, hình thành khu công nghiệp tập trung Hòa Hiệp…

Đến năm 2000, 100% xã miền núi có đường ô tô đến trung tâm xã, các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 25, ĐT645 (Tuy Hòa - Sông Hinh), ĐT641 (Tuy An - Đồng Xuân), ĐT642 (Triều Sơn - Sơn Định), ĐT643 (Hòa Đa - Trà Kê), ĐT644 (Sông Cầu - Xuân Lãnh), ĐT646 (Tịnh Sơn - Phước Tân), ĐT647 (Xuân Phước - Phú Mỡ), ĐT648 (Ngân Điền - Vân Hòa)… được nâng cấp sửa chữa, nhựa hóa. Đến cuối năm 2000, 22/43 xã miền núi sử dụng lưới điện quốc gia, 18/43 xã có điện thoại, 100% buôn làng có trường học và mạng lưới y tế…

Cuối năm 2000, Đảng bộ và nhân dân Phú Yên vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đó là những “cơ ngơi” mà Phú Yên có được sau 11 năm tái lập tỉnh, tạo cơ sở cho tỉnh bước vào thế kỷ XXI.

Từ ngày 28-31/12/2000, Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIII diễn ra tại Nhà Văn hóa Lao động tỉnh. Đại hội lần thứ XIII đặt ra mục tiêu phấn đấu trong 5 năm (2001-2005): đẩy mạnh kinh tế - xã hội phát triển với nhịp độ tăng trưởng cao và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đồng chí Nguyễn Thành Quang được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí Đinh Thanh Đồng, Đào Tấn Lộc được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Tỉnh ủy khóa XIII tổ chức 21 hội nghị Tỉnh ủy thường kỳ và 3 hội nghị Tỉnh ủy bất thường. Các nghị quyết của hội nghị Tỉnh ủy đã cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng.

Tỉnh ủy khóa XIII đã lãnh đạo hệ thống chính trị toàn tỉnh đạt được nhiều thành quả rất quan trọng, tạo ra một thời kỳ phát triển rực rỡ đầy ấn tượng. Trong lĩnh vực kinh tế, nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm (2001-2005) là 10,7% (một chỉ tiêu đề ra 10-10,5%). Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 19,6%/năm (chỉ tiêu: 19-20%/năm). Giá trị các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân 5,6%/năm (chỉ tiêu: 3,5-4%/năm). Nhịp độ tăng trưởng bình quân các ngành dịch vụ 12,1%/năm (chỉ tiêu: 10-11%/năm). Tỉ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP năm 2005 chiếm 35,7% (chỉ tiêu: 32,9%); công nghiệp và xây dựng chiếm 30% (chỉ tiêu: 32,1%); dịch vụ: 34,3% (chỉ tiêu: 35%).

Sản lượng lương thực có hạt năm 2005: 334.000 tấn (chỉ tiêu: 300.000 tấn). Giá trị các mặt hàng địa phương tham gia xuất khẩu năm 2005: 56,8 triệu USD (chỉ tiêu: 25-30 triệu USD). Thu ngân sách địa phương năm 2005: 501 tỉ đồng (chỉ tiêu: 370 tỉ đồng). Số xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS: 94/106 xã, phường (kế hoạch hoàn thành công tác này vào năm 2007). Giải quyết việc làm bình quân hàng năm 2,3 vạn người (chỉ tiêu: 1,7 vạn người). Mức giảm sinh bình quân hàng năm 0,53‰ (chỉ tiêu: 0,5-0,6‰). Kết nạp đảng viên mới tăng bình quân 6,32%/năm so với tổng số đảng viên toàn Đảng bộ (chỉ tiêu: 6-7%).

Trên các lĩnh vực đạt được những kết quả cụ thể. Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng khá. GDP bình quân hàng năm tăng 10,7%, GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 6,04 triệu đồng/người (bằng 60,3% so với bình quân cả nước). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ cấu ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế năm 2005 so với năm 2000 như sau: Công nghiệp - xây dựng tăng từ 22,7% lên 30%; dịch vụ tăng từ 33,2% lên 34,3%; nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 44,1% xuống 35,7%.

Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp phát triển tương đối toàn diện, cơ cấu cây trồng vật nuôi có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,7%, chất lượng tăng trưởng khá; việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ngày càng nhiều và có hiệu quả; bước đầu hình thành các vùng chuyên canh cây nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến (mía 18.045ha, điều 6.000ha, sắn 10.565ha…); bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn, nhất là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chăn nuôi tiếp tục phát triển, bước đầu hình thành các mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi bò đàn. Phong trào trồng cỏ nuôi bò bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế phát triển ngày càng sâu rộng trong nhân dân. Việc sind hóa đàn bò tiếp tục đẩy mạnh. Tổng đàn bò hiện có 201.642 con, trong đó bò lai 69.117 con, chiếm 34,3% tổng đàn.

Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được tăng cường, huy động được nhiều nguồn lực tham gia. Tỉnh đã giao khoán bảo vệ 27.478ha rừng, trồng mới trên 16.000ha rừng, 10 triệu cây phân tán, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh từ 31% lên 36% (mục tiêu 37,6%).

Thủy sản tiếp tục phát triển. Số lượng tàu thuyền, sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản đều tăng. Giá trị sản xuất thủy sản tăng bình quân 7,9%/năm, sản lượng nuôi trồng tăng bình quân 2,8%/năm. Lực lượng tàu thuyền có khả năng đánh bắt xa bờ phát triển nhanh, cơ sở phục vụ hậu cần nghề cá được cải thiện; năm 2005 sản lượng thủy sản khai thác tăng 28% so với năm 2000, trong đó cá ngừ đại dương đạt 5.040 tấn, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2000.

Kinh tế nông thôn từng bước được nâng lên, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển thêm một số nghề mới; bước đầu hình thành một số mô hình kinh tế trang trại, các làng nghề làm ăn hiệu quả. Kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, cải thiện đáng kể. 100% xã có điện lưới quốc gia, với 96% hộ sử dụng điện (khu vực miền núi 85%); 50% dân cư nông thôn sử dụng nước sạch, 100% số xã có bưu điện văn hóa xã, sóng phát thanh truyền hình phủ 96% địa bàn dân cư. Bộ mặt nông thôn ngày thêm đổi mới, đời sống nhân dân được nâng lên.


Đồng chí Nguyễn Thành Quang, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên 31/12/2000-2/2006 (bên trái); đồng chí Đào Tấn Lộc, Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên từ ngày 31/12/2000, đến tháng 2/2006 là quyền Bí thư Tỉnh ủy (giữa) và đồng chí Đinh Thanh Đồng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phú Yên 31/12/2000-8/2008 (bên phải) - Ảnh: MINH KÝ

Sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 18,6%/năm, trong đó công nghiệp chế biến giữ được nhịp độ tăng trưởng cao (19,9%/năm) và chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nội bộ ngành (89,2%). Đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Một số nhà máy mới được xây dựng đi vào hoạt động như: Chế biến thủy sản xuất khẩu, chế biến hạt điều, gỗ xuất khẩu, đá granit, đường KCP, xí nghiệp dược, nhà máy bia…, góp phần giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu. Tổng kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu từ công nghiệp giai đoạn 2001-2005 đạt 136 triệu USD. 3 khu công nghiệp tập trung và một số cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương được hình thành.

Các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng khá. Giá trị các ngành thương mại và dịch vụ tăng bình quân hàng năm 12,1%. Cơ cấu ngành dịch vụ có bước chuyển biến tích cực theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu đa dạng của sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân. Hoạt động xuất khẩu phát triển tích cực, thị trường được mở rộng. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 185,4 triệu USD, bình quân tăng hàng năm 11,2%, trong đó hàng địa phương 170,3 triệu USD, chiếm 91,9%; riêng năm 2005 đạt 56,8 triệu USD (chỉ tiêu 25-30 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 đạt 65,9 USD/người. Các mặt hàng địa phương tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng như: Hải sản, nhân hạt điều, cà phê nhân, hàng may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ…

Hoạt động du lịch bước đầu có chuyển biến; từng bước quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng các khu du lịch, điểm du lịch; một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch đã và đang được triển khai xây dựng với giá trị đầu tư mới trên 70 tỉ đồng, tạo tiền đề cho phát triển du lịch những năm tiếp theo. Vận tải hàng hóa và vận chuyển hành khách phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân. Khối lượng vận tải hàng hóa tăng bình quân 5,3%/năm, vận chuyển hành khách tăng 5,1%/năm. Dịch vụ bưu chính - viễn thông phát triển mạnh, 100% xã có điện thoại đến trung tâm xã, tỉ lệ sử dụng điện thoại đạt 10,7 máy/100 dân. Thu ngân sách địa phương tăng nhanh, bình quân tăng 13,2%/năm, đáp ứng gần 70% nhu cầu chi thường xuyên của tỉnh. Cơ cấu nguồn thu đã có những chuyển biến tích cực. Các hoạt động tín dụng ngân hàng có nhiều tiến bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Về đầu tư phát triển: Công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển có nhiều tiến bộ, đã huy động được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 9.487 tỉ đồng, bằng 49,8% GDP, tăng bình quân hàng năm 19,7% (kế hoạch 6.050 tỉ, bằng 33% GDP), trong đó vốn huy động trong dân và các thành phần kinh tế chiếm 39,1%, vốn thu hút từ bên ngoài chiếm 38,5%/tổng vốn.

Vốn đầu tư tập trung của tỉnh đã được ưu tiên bố trí cho các công trình trọng điểm về giao thông, thủy lợi, điện, cấp thoát nước và xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, trường học, trạm xá… Đã hoàn thành xây dựng đưa vào khai thác nhiều tuyến giao thông quan trọng như: ĐT645, ĐT641, ĐT642, đường Hùng Vương, quốc lộ 25, đường tránh quốc lộ 1 và cầu Đà Rằng mới; đang trong giai đoạn hoàn thành việc xây dựng kè chống ngập TP Tuy Hòa, chỉnh trị cửa sông Đà Nông, đường Khu công nghiệp Hòa Hiệp - Vũng Rô; hoàn thành chương trình điện khí hóa nông thôn; đầu tư xây dựng đưa vào vận hành 4 trạm biến áp 110/22 kV phục vụ các khu công nghiệp…; đưa sân bay Tuy Hòa, cảng Vũng Rô, cảng cá Dân Phước, Tiên Châu vào hoạt động. Nhiều dự án giao thông quan trọng đang được triển khai: Trục dọc miền Tây, tuyến Độc Lập - Gành Đá Đĩa… Tiếp tục huy động nhiều nguồn lực đầu tư đẩy mạnh bê tông hóa hè phố, hẻm phố, kiên cố hóa giao thông nông thôn, đạt bình quân mỗi xã 4km (chỉ tiêu 3-5km). Hoàn thành hồ chứa nước Xuân Bình, hồ Đồng Tròn, nâng cấp hệ thống thủy nông Đồng Cam, Tam Giang, hồ Đồng Khôn, Tân Giang Thượng… Đầu tư nâng cấp, xây dựng mới một số nhà máy cấp nước bảo đảm nhu cầu nước sạch phục vụ các khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư tập trung trong tỉnh.

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển và có bước chuyển dịch tích cực về cơ cấu, bước đầu huy động được tiềm năng và khơi dậy các nguồn lực mới cho sự phát triển. Tỉ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong cơ cấu thành phần kinh tế giảm từ 30,7% (năm 2000) xuống còn 27,8% (năm 2005), kinh tế ngoài quốc doanh tăng từ 68,78% lên 70,4%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 0,5% lên 1,8%, đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách.

Các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp, đổi mới; tập trung xử lý các doanh nghiệp giải thể, thúc đẩy cổ phần hóa theo lộ trình được phê duyệt.

Kinh tế - xã hội trong tỉnh được phân vùng quy hoạch đầu tư, phát triển đúng hướng, bước đầu phát huy được tiềm năng và lợi thế của từng vùng trong tỉnh, gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với quan hệ vùng và lãnh thổ của cả nước.

Vùng miền núi: kinh tế - xã hội có bước tăng trưởng và phát triển; đời sống đồng bào miền núi được cải thiện, bộ mặt nhiều vùng được đổi mới. Đầu tư cho phát triển miền núi được chú trọng, trong 5 năm đã đầu tư 1.400 tỉ đồng, chiếm 15% tổng mức đầu tư. Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống như: Giao thông, thủy lợi, trường học, trạm xá, điện, bưu điện văn hóa xã, nhà văn hóa thôn, buôn… Đến nay, các xã miền núi đặc biệt khó khăn đều có điện, đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã có trường tiểu học, trạm y tế, tại các trung tâm cụm xã có trường cấp II bán trú, phòng khám đa khoa khu vực. Tiềm năng về đất đai bước đầu được khai thác, sử dụng; đã quy hoạch, bố trí xây dựng các nhà máy chế biến, các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu; hình thành các vùng chăn nuôi bò đàn tập trung theo kiểu kinh tế trang trại xản xuất nông - lâm kết hợp. Trong quy hoạch vùng miền núi của tỉnh luôn gắn quan hệ với 2 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và vùng Tây Nguyên.

Vùng đồng bằng: Đã đầu tư phát triển khá đồng bộ kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Theo quy hoạch phát triển, vùng này tập trung thâm canh cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây công nghiệp ngắn ngày; các cơ sở công nghiệp chế biến và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Làng nghề truyền thống được phục hồi; thương mại và dịch vụ có bước phát triển; từng bước khắc phục có hiệu quả thế thuần nông độc canh lúa và tình trạng lao động nông thôn thiếu việc làm; đời sống nhân dân được cải thiện; bộ mặt nông thôn đổi mới.

Vùng ven biển: Cùng với việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cảng Vũng Rô, các khu công nghiệp tập trung, các tuyến giao thông ven biển và đưa sân bay Tuy Hòa hoạt động trở lại… đã dần hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh gắn với sự phát triển chung của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Kinh tế thủy sản phát triển cả về khai thác, nuôi trồng và chế biến; bước đầu hình thành các khu công nghiệp tập trung ven biển, các cơ sở dịch vụ du lịch biển, du lịch sinh thái. Quốc phòng - an ninh tuyến ven biển được giữ vững. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.